24 Tháng Chín 2021 ..:: BÌNH LUẬN ÁN ::.. Đăng Nhập
 Xem chi tiết
Luật sư Vũ Trọng Khánh: Người có công đầu chấp bút Hiến pháp 1946 và kiến tạo Ngày 10/10 của luật sư Việt Nam
(Cập nhật: 12/06/2015 15:47:28)

Cách mạng tháng Tám giành chính quyền thành công ở Hải Phòng ngày 23/8/1945, Luật sư Vũ Trọng Khánh (1913-1996) đang giữ chức vụ Đốc lý (Thị trưởng) Hải Phòng trở thành Ủy viên Hành chính Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố.

Sau đó, ông được giao phó chức vụ Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu. Đầu năm 1946, Chính phủ lâm thời (từ 28/8/1945 đến 1/1/1946) tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời (từ 1/1/1946 đến tháng 3/1946), Luật sư Vũ Trọng Khánh liên tiếp giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong vòng hơn 6 tháng. Với 181 ngày (từ 28/8/1945 đến 2/3/1946), Vũ Trọng Khánh đã cống hiến nhiều công lao tâm trí trong việc xây dựng Nhà nước cách mạng ban đầu và chế độ tư pháp mới với hơn 30 sắc lệnh được Chủ tịch nước ký ban hành. Đặc biệt là ông đã góp công đầu trong việc xây dựng Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Hiến pháp 1946) và kiến tạo tính lịch sử cho ngày 10/10 mà sau này được chọn làm Ngày Luật sư Việt Nam.   
Góp công đầu xây dựng Hiến pháp 1946
Ngay sau khi giành được chính quyền, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ việc lập hiến là một trong “những vấn đề cấp bách hơn cả”. Chính phủ lâm thời xúc tiến ngay việc khởi thảo Hiến pháp. Sắc lệnh số 34/SL ngày 20/9/1945 thành lập Ủy ban Dự thảo Hiến pháp (Chế Hiến ủy viên hội) gồm có 7 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sáu thành viên còn lại là: Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến, Giáo sư Đặng Thai Mai, Nguyễn Lương Bằng và Trường Chinh.
Công việc trọng đại, mới mẻ, vô cùng khó khăn, trong thời gian gấp rút. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban giao cho Giáo sư Đặng Thai Mai và Luật sư Vũ Trọng Khánh soạn bản dự thảo đầu tiên. Hai ông tập trung tim óc và sức lực phác thảo đề cương trình Ủy ban góp ý thông qua, rồi chia nhau bắt tay vào việc chấp bút chi tiết. Theo Giáo sư Đặng Thai Mai, “Vũ Trọng Khánh chịu trách nhiệm viết các phần quan trọng nhất, chiếm khoảng ba phần tư dự án. Tôi chỉ viết một phần tư còn lại. Sau đó, anh Khánh duyệt phần do tôi viết, rồi viết lại toàn bộ văn bản trước khi chuyển tới Võ Nguyên Giáp”. Trong quá trình dự thảo, hai ông tranh thủ ý kiến của Luật gia Võ Nguyên Giáp[1], hai cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, nhiều trí thức nổi tiếng thời đó như Luật sư Phan Anh, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn cho mượn cả những văn kiện tiếng Pháp (như Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp Pháp, …) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải tìm để tham khảo. Ngày 26/10/1945, dựa vào phần Giáo sư Đặng Thai Mai và mình đã viết, Luật sư Vũ Trọng Khánh tổng hợp thành một bản dự thảo hiến pháp do chính ông viết lại. Ngày 30/10/1945, sau khi đọc xong bản tổng hợp trên, Luật gia Võ Nguyên Giáp làm việc lần cuối cùng với hai ông, tán thành về cơ bản, chỉ góp ý nên rút bớt khoảng một phần ba. Ngày 2/11/1945, Luật sư Vũ Trọng Khánh chỉnh lý xong theo góp ý của Võ Nguyên Giáp, hai ông nhất trí chuyển bản dự thảo cuối cùng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 6/11/1945, bản dự thảo được Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua. Người ký tắt rồi chuyển cho hai ông mỗi người một bản.
Ngày 8/11/1945, Ủy ban Dự thảo họp phiên cuối cùng do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng ban chủ trì. Người đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh đọc toàn văn bản dự thảo. Tất cả 7 thành viên biểu quyết tán thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Đây là một bản dự thảo đặc sắc, ông Vũ Trọng Khánh có công đầu”. Người yêu cầu cho công bố ngay để lấy ý kiến cả nước. Bản dự thảo Hiến pháp Việt Nam của Chính phủ lâm thời là nền tảng cho việc xây dựng Dự án Hiến pháp năm 1946 sau này được Quốc hội tiếp tục thảo luận và thông qua ngày 9/11/1946. Nhận xét về Luật sư - Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh, Giáo sư Đặng Thai Mai nói: “Tôi phải thừa nhận Vũ Trọng Khánh là một luật sư biết cách làm việc khoa học, luôn luôn lo nghĩ đến nhiệm vụ được trao phó, luôn luôn lo nghĩ đến nhân dân. Anh vừa hiểu sâu sắc các vấn đề hiến pháp, vừa nắm vững tiếng Pháp ngành luật, vừa sử dụng thành thạo tiếng Việt ngành luật”[2].
Xây nền kiến tạo Ngày 10-10 cho giới luật sư Việt Nam
Ngày 10/10/1945 là ngày lịch sử cho toàn bộ hệ thống cơ quan pháp luật cả nước chứ không riêng đối với giới luật sư. Bởi vì vào cùng ngày này, Chính phủ lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL tạm giữ các luật lệ hiện hành cho đến khi ban hành pháp luật mới trong phạm vi cả nước; đồng thời với Sắc lệnh số 46/SL về việc tổ chức các đoàn thể luật sư. Đây là sự vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, không “đập tan bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật cũ” khi mà lúc đó ta chưa có gì mới thay thế để quản lý nhà nước và xã hội sau Cách mạng tháng Tám 1945.
Cụ thể theo Sắc lệnh 46/SL, các đoàn thể luật sư trong nước Việt Nam đã có sẵn (dưới thời Pháp thuộc) được tạm giữ lại như cũ, vẫn tạm thi hành theo Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của Tổng thống Pháp Gaston Doumargue đã được Toàn quyền Đông Dương P. Pasquier ban hành bởi Nghị định ngày 12/9/1931.
Sắc lệnh (Décret) của Tổng thống Pháp ngày 25/5/1930 gồm có 6 phần (Titre), 42 điều (Article), quy định về Danh biểu Đoàn luật sư (Phần I), Tổ chức và quản lý nhân sự (Phần II), Việc tập sự(Phần III), Về kỷ luật (Phần IV), Quy định chung (Phần V) và Điều khoản chuyển tiếp (Phần VI).
Về nội dung, Sắc lệnh năm 1930 này tiến bộ hơn Sắc lệnh áp dụng trước đó (Sắc lệnh năm 1911) rất nhiều, vì nó công nhận tính độc lập, tự quản của các đoàn luật sư (lúc đó cả 5 xứ Đông Dương gồm: Nam kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ, Cao Miên và Lào chỉ có hai đoàn luật sư: Sài Gòn và Hà Nội). Sắc lệnh năm 1930 cho phép người Đông Dương được làm luật sư (avocat), chứ không như chế độ luật sư - bào chữa viên (avocat - défenseur) trước đó theo Sắc lệnh năm 1911 chỉ dành cho công dân Pháp (gồm người dân gốc Pháp và người Đông Dương đã nhập quốc tịch Pháp) mới được làm luật sư; vả lại, theo Sắc lệnh 1911 tất cả luật sư - bào chữa viên đều mang tư cách công chức do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm (trước Sắc lệnh năm 1911 lại do Thống đốc, Thống sứ đứng đầu các xứ bổ nhiệm).
Như vậy, so với trước (tức từ 1911 đến 1931), Sắc lệnh 1930 (được áp dụng ở Đông Dương từ năm 1931) đã có nhiều tiến bộ nên được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho áp dụng dưới chế độ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với vài quy định mới thật cần thiết trước mắt mà thôi[3].
Sắc lệnh 46/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 10/10/1945 cho áp dụng lại Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của Pháp gồm chỉ vỏn vẹn 7 điều, trong đó có chi tiết quy định cụ thể ở Điều thứ hai(về phạm vi bào chữa của luật sư), Điều thứ ba (về điều kiện đăng ký vào danh biểu đoàn luật sư, gọi là “Điều kiện để được liệt danh vào bảng luật sư”) và Điều thứ tư, thứ năm về tổ chức tự quản của các đoàn luật sư thông qua Hội đồng luật sư và các văn phòng hành nghề luật sư.
Nhìn chung, Sắc lệnh 46/SL ngày 10/10/1945 là sự sáng tạo kịp thời, đúng lúc của chính quyền cách mạng để phục vụ yêu cầu cần duy trì tổ chức luật sư sau Cách mạng tháng Tám, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng nhằm bảo vệ quyền lợi cho mọi công dân, kể cả những công dân đã thực hiện hành vi phạm tội cũng được bảo vệ trước pháp luật.
*        *
*
Luật sư Vũ Trọng Khánh là một trí thức yêu nước, tuy đã từng giữ trọng trách dưới chế độ cũ (ông đã là Thị trưởng TP. Hải Phòng dưới thời Chính phủ Trần Trọng Kim) nhưng trong chế độ cách mạng ông đã đóng góp được nhiều công việc hệ trọng. Những công trình pháp lý đặc sắc của ông gây dựng từ những tháng ngày sau Cách mạng tháng Tám (1945) đã ngót 70 năm nay mà vẫn còn nguyên ý nghĩa và cả xã hội đang phấn đấu triển khai xây dựng cho tốt một chế độ pháp quyền dân chủ, văn minh.     
Mỗi sự đóng góp của Vũ Trọng Khánh là một nét chấm phá khéo léo phát họa nên chân dung của Luật sư Vũ Trọng Khánh khi đứng vào hàng ngũ cách mạng, trong thời kỳ đầu khai sinh nền cộng hòa dân chủ Việt Nam.
 
LS Trương Thị Hòa

[1] Võ Nguyên Giáp (1911-2013) đã học luật tại Trường Cao đẳng Luật Đông Dương, nhận bằng Cử nhân Luật (Licence en Droit) năm 1937.
[2] Ngô Đăng Lợi, Luật sư Vũ Trọng Khánh – Nhà trí thức yêu nước, Câu lạc bộ Hải Phòng học .
 
[3] Vì nội dung tiến bộ của Sắc lệnh ngày 25/5/1930 mà dưới chế độ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại (1949 - 1955) và chế độ Việt Nam Cộng hòa thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu (1955 - 1975) tuy có ban hành các đạo luật về tổ chức luật sư mới, song về cơ bản vẫn mô phỏng theo Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của thời Pháp thuộc.
 

tủ bếp gỗ xoan đàogiay bong datu vi hang ngayđầm công sởchân váy công sởnhan cuoichuyen phat nhanh quần áo bảo hộ

Nguồn tin: Tạp chí Luật sư Việt Nam (số 7, tháng 9/2014)


Tin - Bài khác
Lịch sử hình thành và phát triển thiết chế luật sư tại Việt Nam
11 VỊ LUẬT SƯ NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Luật sư Phan Trung Hoài nói về những thử thách của nghề luật sư
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Nhà trí thức yêu nước vĩ đại
Luật sư – Nghề được xã hội trọng vọng
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Người luật sư cần có tâm thật sự trong sáng
Luật sư bị làm khó: Chuyện… bình thường?
Vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền con người
NGHỀ LUẬT SƯ GIAN KHÓ, NGHỀ DAY DỨT TRONG TIM...
Vì sao luật sư lại biện hộ cho tội phạm
Tranh tụng bình đẳng, bắt đầu từ chỗ ngồi!
Luật sư quyền miễn trừ khi bào chữa?
Luật sư và tai nạn nghề nghiệp
‘Bao cãi’ bất thành, luật sư bị níu áo
Gần 100 luật sư kiến nghị rút ngắn nhiệm kỳ đại hội LĐLS
Khi luật sư bị hạch hỏi
Coi trọng luật sư để cùng xử lý án
Trang 1 trong 1Đầu tiên    Trước   [1]  Tiếp   Cuối    
ĐỐI TÁC TP.HCM
ĐỐI TÁC BÌNH DƯƠNG
ĐỐI TÁC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
ĐỐI TÁC VĨNH LONG
ĐỐI TÁC ĐỒNG THÁP
LIÊN KẾT WEBSITE
NGƯỜI DÙNG TRỰC TUYẾN
People Online Thành viên online:
Visitors Khách: 16
Members Thành viên: 0
Total Users Tổng cộng: 16

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3,913,866