15 Tháng Sáu 2021 ..:: BÌNH LUẬN ÁN ::.. Đăng Nhập
 Xem chi tiết
Luật sư vận động lập hiến buổi đầu ở Việt Nam
(Cập nhật: 20/06/2015 22:31:45)

 

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn, thể chế truyền thống của nước ta là quân chủ trung ương tập quyền; mọi đường lối, chính sách đều rập theo học thuyết Khổng – Mạnh. Trong chế độ đó, toàn bộ quyền làm luật, tổ chức thi hành luật, xét xử đều tập trung vào tay vua; thần dân không có quyền … Thời đó cũng chưa có tư tưởng lập hiến, vì thực chất việc lập hiến là nhằm hạn chế quyền chuyên chế tuyệt đối của vua; đòi cho dân có quyền thì cũng chẳng khác nào làm việc bất trung, sách động, xúi dân làm loạn…

Từ quan điểm tôn quân đến phong trào lập hiến 

Cho đến cuối thế kỷ XIX, các phong trào khởi nghĩa chống Pháp cứu nước buổi đầu dưới ngọn cờ Văn thân Cần vương vẫn là để bảo vệ ngôi vua và chế độ quân chủ cổ truyền Việt Nam. Trong nước vua là nguyên thủ quốc gia có quyền chuyên chế vô giới hạn, một mình vua nắm tất cả quyền lực nhà nước, không phân chia. Thần dân không có quyền theo đúng nghĩa, ngoại trừ một số hình thức đặc ân mà vua ban cho thiên hạ với tấm lòng “dân chi phụ mẫu” (1).

Bước qua thế kỷ XX, công cuộc đấu tranh giành độc lập của các nhà ái quốc Việt Nam đã chuyển hướng, khởi nghĩa vũ trang thưa thớt dần, nhường chỗ cho những cuộc vận động chính trị duy tân. Qua đó, đấu tranh cứu nước cũng là đấu tranh lập hiến. Xây dựng hiến pháp là mục đích hướng tới của cách mạng Việt Nam mà lập hiến cũng là động lực thúc đẩy, đưa cách mạng dân tộc đến thành công. Cái thành trì chuyên chế độc tài của ông vua không còn thiêng liêng và bất khả xâm phạm nữa. Các phong trào lập hiến đều muốn hạ bệ ông vua để cùng nhau xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, phân chia quyền lực nhà nước, xây dựng một bộ máy nhà nước của dân, do dân, tận tụy phục vụ nhân dân, một xã hội văn minh trong đó công dân có quyền, thực sự có quyền.

Các luật sư tiên phong dấn thân tranh đấu

Vận động phong trào giành độc lập, dân chủ trong thời kỳ ấy, có những luật sư tiền bối đại diện cho tầng lớp trí thức tân học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, mà tiêu biểu là hai nhà yêu nước Phan Văn Trường (1876-1933) và Nguyễn An Ninh (1900-1943) (2).

Hai ông là trí thức ngành luật đã từng du học ở Pháp tới trình độ Cử nhân, Tiến sĩ, hành nghề luật sư ở Sài Gòn và Paris. Pháp đã bắt và truy tố các ông ra tòa nhiều lần về hành vi chống nhà nước Đại Pháp. Ngày 24-3-1926, sau khi diễn thuyết tại Sài Gòn để cổ vũ lòng yêu nước của đồng bào, Nguyễn An Ninh bị bắt, truy tố ra tòa. Ông đã phải vào tù 5 lần nhưng không hề nản chí. Lần cuối cùng, ông bị lưu đày ra Côn Đảo và mất ở đó (14-8-1943)… Năm 1928, Phan Văn Trường bị bắt, Tòa Đại hình Sài Gòn kết án ông 2 năm tù về tội xúi dân làm loạn. Ông chống án, sau đó Tòa Thượng thẩm Paris xử y án và ông bị giam 2 năm (1929-1931) tại nhà tù La Santé (Paris).

Độc lập, cộng hòa, tự do, chủ quyền, nhân quyền, dân quyền…

Trong ý thức dân chủ tiến bộ, trên diễn đàn hai tờ báo của mình (La Cloche fêlée: Tiếng chuông rè và L’Annam: Nước Nam), Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường không ngừng đấu tranh đòi thực hiện nhân quyền và dân quyền cho người Việt Nam.

Mục đích đấu tranh của hai ông là nhằm tiến tới xây dựng một bản hiến pháp dân chủ. Nguyễn An Ninh kêu gọi: “Hỡi đồng bào, các bạn đòi tôn trọng tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do giảng dạy, tự do đi lại, tự do làm việc, các bạn muốn dân tộc An Nam có những hội đồng là nơi mọi tầng lớp xã hội được đại diện để chăm lo cho lợi ích chung, các bạn muốn có hiến pháp để bảo đảm tự do và quyền lợi của các bạn”. (3)

Trong tư tưởng Phan Văn Trường, yêu cầu xây dựng hiến pháp càng được thể hiện rõ rệt. Ông đã so sánh chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ quân chủ lập hiến và chỉ rõ chế độ chuyên chế “tệ” hơn chế độ lập hiến, vì chế độ chuyên chế “không có pháp luật chi hạn định quyền vua cả” (4) còn chế độ lập hiến “có hiến pháp hạn định quyền của vua cùng các quan quyền trong nước và quyền quốc dân nữa” (5). Trên bìa các sách của Phan Văn Trường đều có ghi hai dòng chữ (chữ Hán và chữ Việt) “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” mặc dù bản thân ông là một trí thức người Việt đã đỗ bằng Tiến sĩ Luật ở Pháp (Paris).

Mô hình nhà nước lý tưởng trong tư tưởng Nguyễn An Ninh là thể chế cộng hòa; trong đó nghị viện đại diện cho quyền lợi của dân phải gồm những đại biểu thực sự do dân chọn lựa bầu ra một cách có ý thức; người đại biểu phải có trách nhiệm với dân (6)… Trong tư tưởng Phan Văn Trường cũng vậy. Ông nhấn mạnh chế độ cộng hòa, nghị viện nắm quyền lập pháp. Nghị viện (tức quốc hội) đại diện cho toàn dân thảo luận và biểu quyết những đạo luật cơ bản làm công cụ pháp lý để quản lý đất nước (régime de la loi) chứ không phải nhà nước quản lý chủ yếu bằng những văn bản hành chính của hành pháp. Ở điểm này, tư tưởng Phan Văn Trường hoàn toàn giống với tư tưởng Nguyễn Ái Quốc thể hiện trong Yêu sách của nhân dân An Nam (Revendications du peuple Annamite) tháng 6-1919: “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” (7). Về tổ chức điều hành bộ máy nhà nước, ông đề cao nguyên tắc phân quyền áp dụng dưới chính thể dân chủ cộng hòa: “Ở những nước có hiến pháp, cái chủ ngãi quan hệ nhất là cái chủ ngãi phân quyền (principe de la séparation des pouvoirs). Phân quyền nghĩa là lập nên những quyền trong quốc gia đứng tự chủ, không có quyền nọ phải tùy lụy quyền kia…” (8)

Đấu tranh lập hiến là cuộc chiến đấu không ngừng đòi quyền độc lập, tự do, dân quyền, dân sinh, dân chủ… Đó là cuộc đấu tranh đầy gian lao, thử thách, phải chịu hy sinh tự do, vào tù ra khám, có khi phải hy sinh cả tính mạng. Từ Tây sang Đông, trên thế giới và ở Việt Nam, giới trí thức ngành luật ngay từ đầu đã nêu cao tấm gương truyền thống của mình, góp phần định hướng cho quần chúng tiến lên theo con đường lập hiến vẻ vang đó.

-----------------------------------

(1) “Dân chi phụ mẫu” là lý thuyết kinh điển của Nho giáo coi vua quan là cha mẹ của dân.

(2) Trong thời gian đấu tranh ở Pháp, nhóm “Ngũ Long” (Năm con rồng) là 5 nhà yêu nước Việt Nam gồm: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền.

(3) Nguyễn An Tịnh (sưu tầm), Nguyễn An Ninh, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr.170.

(4,5) Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận, Nhà in Xưa và Nay, Sài Gòn, 1926, tr.15,18.

(6) Nguyễn An Tịnh (sưu tầm), Nguyễn An Ninh, Sđd, tr. 131-133.

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập (xuất bản lần thứ ba), Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.469.

(8) Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận, Sđd, tr. 18.


TIN TỨC - SỰ KIỆN KHÁC


 Ngày 10-10: Ngày truyền thống của luật sư Việt Nam 

Ls Trương Thị Hoà

Nguồn: Đoàn luật sư Tp.Hồ Chí Minh


Tin - Bài khác
Luật sư Trần Ngọc Liễng: Luật sư luôn sống đẹp giữa đạo và đời
Người luật sư làm “tê liệt” cảnh sát Sài Gòn - Gia Định
"Hành nghề luật sư, nỗi buồn nhiều vô kể"
Luật sư Vũ Trọng Khánh: Người có công đầu chấp bút Hiến pháp 1946 và kiến tạo Ngày 10/10 của luật sư Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển thiết chế luật sư tại Việt Nam
11 VỊ LUẬT SƯ NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Luật sư Phan Trung Hoài nói về những thử thách của nghề luật sư
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Nhà trí thức yêu nước vĩ đại
Luật sư – Nghề được xã hội trọng vọng
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Người luật sư cần có tâm thật sự trong sáng
Luật sư bị làm khó: Chuyện… bình thường?
Vai trò của Luật sư trong việc bảo vệ quyền con người
NGHỀ LUẬT SƯ GIAN KHÓ, NGHỀ DAY DỨT TRONG TIM...
Vì sao luật sư lại biện hộ cho tội phạm
Tranh tụng bình đẳng, bắt đầu từ chỗ ngồi!
Luật sư quyền miễn trừ khi bào chữa?
Luật sư và tai nạn nghề nghiệp
‘Bao cãi’ bất thành, luật sư bị níu áo
Gần 100 luật sư kiến nghị rút ngắn nhiệm kỳ đại hội LĐLS
Khi luật sư bị hạch hỏi
Coi trọng luật sư để cùng xử lý án
Trang 1 trong 1Đầu tiên    Trước   [1]  Tiếp   Cuối    
ĐỐI TÁC TP.HCM
ĐỐI TÁC BÌNH DƯƠNG
ĐỐI TÁC BÀ RỊA - VŨNG TÀU
ĐỐI TÁC VĨNH LONG
ĐỐI TÁC ĐỒNG THÁP
LIÊN KẾT WEBSITE
NGƯỜI DÙNG TRỰC TUYẾN
People Online Thành viên online:
Visitors Khách: 18
Members Thành viên: 0
Total Users Tổng cộng: 18

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3,814,842