Sợ hãi -  nỗi ám ảnh của nghi can

Điều đó xuất phát từ chính sự khác nhau về địa vị tố tụng, sự bất tương quan giữa cơ quan điều tra (CQĐT), cán bộ điều tra với nghi can. Hay nói rõ hơn luôn có một sự sợ hãi ngấm ngầm to lớn của nghi can đối với người thực hiện công tác điều tra. Sự sợ hãy này là tự nhiên có của con người khi rơi hoàn cảnh bị khống chế, bị kiểm soát bởi quyền lực. Chính sự sợ hãi, bất cân bằng giữa nghi can và người làm công tác điều tra làm cho nghi can có xu hướng thừa nhận hoặc khai những lời khai theo xu hướng nhận định và xét hỏi của cán bộ điều tra. 

Về phần mình, nghi can không thấy hết những xâu chuỗi, sự kiện mà người điều tra đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện. Khi đó, sự thật sẽ bị che dấu, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án ở các bước tiếp theo (bị can phản cung, tố cáo bị ép cung, mớm cung…). Sự sợ hãi có thể xuất phát từ việc sợ bị phạm tội nặng mà che dấu tội phạm, mặc dù hành vi của nghi can không quá nặng như nghi can lo lắng. Mặc khác, sự sợ hãi cũng xuất phát từ sợ bị kết tội, sợ bị bức cung, nhục hình, sợ bị phạt nặng mà khai báo theo những gì người điều tra mong muốn. Cả hai căn nguyên là điều có mẫu số chung là sự thật khách quan của vụ án sẽ bị che khuất. 

Từ đó, để xác định sự thật, nhanh chóng giải quyết vụ án cần thiết phải triệt tiêu sự sợ hãi của nghi can đối với người điều tra. Để làm được điều này cần có sự giám sát của một thiết chế có thiên hướng bảo vệ, đứng về phía nghi can, ví như sự trợ giúp pháp lý của luật sư (LS). Không nói đến việc cố tình che dấu tội phạm của nghi can, thì khi có sự giám sát của LS thì nghi can như có thêm một sự tiếp sức, sự sợ hãi giảm đi và khi đó họ có lòng tin để phản bác hoặc thừa nhận những nội dung mà người điều tra viên đưa ra. 

Cơ quan, người làm công tác điều tra trong khi chưa xác định được sự thật khách quan của vụ án thì họ cũng có quyền nghi ngờ mọi khả năng của vụ án và đưa vào nội dung điều tra. Nếu nghi can sợ hãi và thừa nhận thì khả năng oan sai là rất cao. Bởi lẽ, sự nghi ngờ của người điều tra thì có nhiều nhưng sự thật thì chỉ có một. 

Trong HĐĐT nếu trọng cung hơn trọng chứng là chuyển việc xác định tội phạm về phía nghi can. Nếu nghi can thừa nhận tội phạm thì buộc nghi can vào thế tự buộc tội chính mình. Do đó, cần thiết phải áp dụng quyền im lặng… 

Quyn im lặng- hiểu thế nào cho đúng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Quyền im lặng (QIL) là nghi can được không khai gì, để mặc CQĐT thực hiện, làm khó cho HĐĐT là chưa thoả đáng. Bởi lẽ, HĐĐT là xác định, chứng minh hành vi khách quan mà nghi can đó thực hiện. Hành vi khách quan đã xảy ra thì bằng mọi phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ CQĐT sẽ xác định được. Lời khai của nghi can chỉ góp phần cung cấp thông tin để CQĐT nhanh chóng tìm ra sự thật chứ lời khai của nghi can không tạo ra sự thật. Mặt khác, về mặt chủ quan nghi can cũng muốn cung cấp thông tin để minh oan hoặc được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho mình nên sẽ “mở miệng” nói với CQĐT chứ không thể không nói gì. 

Quan điểm thứ hai: Thực hiện QIL là nghi can chưa khai báo đến khi có luật sư (LS), các buổi làm việc giữa điều tra viên với nghi can phải có LS, các buổi làm việc có LS tham gia thì mới có giá trị pháp lý. Đây là cách hiểu phổ biến về QIL. Khi có một sự bắt giữ thì người thi hành việc bắt hoặc lấy lời khai sẽ thông báo ngay cho nghi can về QIL để nghi can biết về quyền khai báo hoặc chưa khai báo, quyền có LS, quyền được bảo vệ trước pháp luật. Nếu nghi can sử dụng QIL hay nói cách khác quyền yêu cầu có LS thì sẽ giảm đi sự sợ hãi vốn có của nghi can đối với người điều tra mình.

Ý kiến cho rằng, khi sử dụng QIL thì nghi can bị mất quyền tự bào chữa cho mình là chưa thoả đáng. Bởi quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa đã được quy định trong Bộ luật TTHS. Hiện nay dù đã được LS bào chữa thì bị can, bị cáo vẫn có quyền tự bào chữa. Do đó sự lo lắng này là không cần thiết.

Quyn im lặng có lợi cho hoạt động điều tra.

Im lặng khi chưa có LS hay im lặng trong suốt quá trình điều tra được quy định như một “quyền”. Tức là quy định này để có lợi tốt nhất cho nghi can. Vấn đề đặt ra khi đã quy định QIL thì đây là quy định bắt buộc đối với HĐĐT hay không?  Khi đó, sẽ làm phát sinh chi phí, nhân lực từ phía nhà nước và lo lắng cả số lượng và chất lượng LS. Thực tế, có những nghi can có đủ năng lực, khả năng để làm việc với CQĐT nên họ không cần phải có LS. Mặt khác có nhiều vấn đề liên quan đến nhân thân và tài sản cần đảm bảo giữ bí mật không muốn người khác biết nên họ cũng không yêu cầu LS, mặc dù, nguyên tắc hành nghề LS là bảo mật. Do đó, quy định QIL là bắt buộc cho mọi trường hợp là không cần thiết.

Nếu quy định QIL là một quyền để nghi can được lựa chọn thì đảm bảo được ý chí của nghi can. Khi nghi can đã yêu cầu áp dụng QIL thì CQĐT cần tôn trọng. Khi nghi can từ chối QIL thì những lời khai của nghi can trước CQĐT sẽ được sử dụng làm căn cứ để buộc tội nghi can mà không thể thay đổi trừ khi có những chứng cứ khách quan khác bác bỏ hoàn toàn lời khai của nghi can. Trường hợp này, mặc dù được việc nghi can đã khai báo xong, sau đó phản cung, phủ định lời khai trước đó, tố cáo CQĐT bức cung, mớm cung, dụ cung… làm cho HĐĐT kéo dài, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. 

Tóm lại, theo tôi “ Quyền im lặng” là không thể trì hoãn. Kể cả quy định cho phép nghi can im lặng trong suốt quá trình điều tra và cả việc nghi can có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu cho họ hưởng QIL. Tuy nhiên, cần có một quy trình, thủ tục chặt chẽ về việc từ chối QIL của nghi can để tránh những tiêu cực xảy ra.